Mình thấy sử dụng blog live space của Microsoft rất hay , với dung lượng lưu trữ 5GB , các bạn sẽ tha hồ lưu trữ hình ảnh tài liệu mà không cần up lên trang web khác .
Muốn sử dụng được các bạn phải có tài khoản , đăng ký tại http://hotmail.com .
Ở đó có rất nhiều Web gadgets và nhiều thứ khác để làm cho blog của chúng ta sinh động hơn.
Bạn còn có thể tải Chương trình viết blog của live space trên desktop , để công việc víêt blog của bạn dễ dàng hơn bao giờ hết .
Đây chỉ là phần sơ lược về live space , khi tìm hiểu kỹ các bạn sẽ thấy rất hay , hay hơn yahoo nhiều
Rèn luyện thân thể không thể bỏ qua việc rèn luyện não, bảo đảm cơ quan điều khiển cơ thể luôn có sức khoẻ để hoàn thành tốt nhiệm vụ tham mưu cho hoạt động của con người. Có những cách tập sau đây:
1. Quan sát:
Chú ý quan sát sự vật xung quanh và luôn ghi nhớ trong óc những điều cần thiết, tất nhiên, quan sát phải kèm phân tích động não.
2. Nghe:
Luôn nghe nhạc mình ưa thích để giúp tăng cường trao đổi chất trong tế bào não, rèn luyện nâng cao khả năng điều khiển việc nghe của thần kinh, giúp trí óc thông minh hơn.
3. Nghĩ:
Luôn suy nghĩ là cách tốt nhất rèn luyện não. Ai muốn thông minh đều cần hoạt động não nhanh nhẹn và biết suy nghĩ. Ngược lại, người không chịu suy nghĩ não thường lão hoá nhanh, giảm khả năng hoạt động rõ.
4. Đọc:
Cần đọc sách báo nhiều vì đó là nguồn cung cấp thông tin quan trọng, giúp cho kho dữ liệu cơ sở của óc - nền tảng của sự thông minh, đầy đủ tiềm lực. Cần đọc sách để tiếp thu kiến thức. Tránh đọc quá nhiều sách tiêu khiển, hoạt hình, truyện vui…
5. Động:
Thực hiện các hoạt động tinh tế khéo léo như vẽ, kẻ chữ, đánh đàn…cũng như luyện tập thể dục thể thao khéo léo linh hoạt, có độ khó cao để nâng cao hoạt động trí lực.
6. Nói:
Não điều khiển việc nói, qua nói giúp cho khả năng tổng hợp logic, thể hiện…của não. Tất nhiên, không chỉ nói nhiều, nói vui pha trò…mà cần thể hiện triết lý tổng hợp sâu sắc, nội dung phong phú, sáng tạo, hấp dẫn.
7. Oxy:
Não cần nhiều ôxy hơn bất cứ bộ phận nào trong cơ thể. Não đủ ôxy sẽ hoạt động với hiệu suất cao hơn. Khi não hoạt động, nhất thiết phải có không khí trong lành sạch sẽ, không hút nhiều thuốc lá.
8. Vui vẻ:
Vui vẻ thoải mái, luôn tươi cười làm não phát huy hết công suất hoạt động. Cần giao thiệp rộng, biết vui cùng bạn bè, gia đình. Tâm hồn thoải mái hưng phấn, vui tươi nhẹ nhàng, không cô độc, trầm lặng, thiếu sinh khí…tạo điều kiện tốt cho não làm việc suy nghĩ.
9. Ăn uống:
Bảo đảm cho não hoạt động tốt, ăn uống cần ổn định, cân bằng, hợp lý. Cần nhiều vitamin C, thức ăn giàu đạm, rau quả tươi, đậu, các loại thịt nạc, cá…
10. Ngủ:
Để não nghỉ ngơi thư giãn, quan trọng nhất là ngủ đủ, không ngủ quá dài để tránh não chìm đắm trong mê mệt, tiêu cực, não già, ít năng động.
Tuổi trẻ không thể là giai đoạn chuyển tiếp từ ấu thơ lên người lớn nên đừng coi nó chỉ là một bến đỗ giữa hai đầu. Không phải cường điệu khi nói rằng đó là lúc ta xác định năng lực và hướng đi cho suốt cả cuộc đời.
Tiềm năng của ta có cái ưu có cái nhược, có hay có dở, có hy vọng và thất vọng, có khi thành công và cũng có khi thất bại do đó vì còn dễ uốn nên cách bạn dùng thì giờ thế nào la` điều quyết định đích mà bạn sẽ tới.
BIẾT ƯỚC MƠ
Lịch sử thuộc về những người biết ước mơ. Quốc gia nào có những người biết ước mơ, dám biến ước mơ thành hiện thực và có những người cùng chia sẻ ước mơ ấy, quốc gia đó mới có thể tiên phong trong lịch sử nhân loại.
Ước mơ của các bạn phải trong sạch tinh khiết như nước trên nguồn. Và những ước mơ đó phải là những ước mơ cao đẹp. Tuổi trẻ không có quyền có những ước mơ nhỏ nhoi ích kỷ. Các bạn phải mang cả vũ trụ vào trong trái tim và ước mơ của các bạn cũng phải mênh mông như vũ trụ. Một nhà hiền triết có nói rằng tuổi trẻ thiếu ước mơ chẳng khác nào sự tự sát tâm lý. Vậy các bạn hãy ước mơ những mơ ước tinh khiết, huy hoàng, cao cả.
SÁNG TẠO
Lịch sử là do tay những nhà tư tưởng tiến bộ và những người sáng tạo dẫn dắt. Một cộng đồng biết coi trọng sự sáng tạo và lao động sản xuất thì không bao giờ bị diệt vong. Các bạn có sức mạnh của suy nghĩ tích cực thì sẽ luôn hành động một cách quả quyết, nhờ đó bạn sẽ là người đi tiên phong. Tuổi trẻ năng động tích cực sẽ tạo ra một tương lai rạng rỡ.
Các bạn hãy đừng lúc nào cũng chỉ nghĩ đến vui chơi và nhàn nhã. Các bạn phải tu thân để lãnh đạo thế giới, đôi mắt trẻ trung của các bạn phải hướng tới tương lai ở qui mô toàn thế giới bởi lẽ đối với các bạn tương lai tức là cả trái đất này. Hãy đừng chấp nhận là kẻ đứng ngoài, các bạn phải mong muốn trở thành những người chủ nhân và thế hệ đi trước sẽ dành cho các bạn sự giúp đỡ cần thiết nhằm vào mục đích đó.
Hãy sáng tạo! Phải tích cực và có tinh thần tiến công, hãy sáng tạo một tương lai tốt đẹp hơn và hãy trở thành những chủ nhân của một thành công rộng lớn hơn.
DÁM THÁCH THỨC
Lịch sử đi lên nhờ tinh thần thách thức và lòng quả cảm. Ai dám làm người đó sẽ thành đạt. Vì các bạn còn trẻ nên các bạn có rất nhiều quyết tâm và chính quyết tâm sẽ thúc đẩy dũng khí của bạn. Tuổi trẻ ưa mạo hiểm và không lùi bước trước thất bại. Kẻ nào khởi sự với nỗi sợ hãi là kẻ đã mất đi tuổi trẻ. Các bạn phải sẵn sàng đốt cháy bùng lên ngọn lửa của thành công. Các bạn phải liên tục trau dồi bản thân, giành giật những đỉnh cao hơn nữa nhằm thoả mãn khát vọng thành công.
Lòng quyết tâm, tinh thần chiến đấu, lòng quả cảm, mạo hiểm, thành công, lạc quan, tiên phong, ước vọng - tất cả đều thuộc về lớp trẻ. Tuổi trẻ không biết đến những từ như tầm thường, yếu đuối, an nhàn, thất bại, tuyệt vọng, hèn nhát, phục tùng v.v..
Hãy dám thách thức! Dám làm mà không hề run sợ. Không ngại thất bại, hãy thách thức cuộc đời với tất cả uy lực của tuổi trẻ.
XẢ THÂN
Lịch sử đi lên nhờ những hy sinh. Thế hệ đi trước phải xả thân để thế hệ kế tiếp được hùng cường.
Vì còn trẻ các bạn phải ý thức đầy đủ sứ mệnh xã hội của mình, nếu không có ý thức này đối với xã hội, với đất nước và thế hệ mai sau thì bạn không còn là thanh niên nữa. Điều đó hết sức thiết thực đối với lớp trẻ ngày nay. Chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của một quốc gia tiên tiến nhờ thế hệ đi trước đã ý thức được sứ mệnh của mình va` đã xả thân để đưa đất nước đến được ngưỡng cửa đó. Bây giờ đến lượt các bạn phải đưa tổ quốc vượt qua ngưỡng cửa này, song nếu các bạn không có ý thức nghĩa vụ và lòng xả thân, các bạn sẽ bị kẹt lại ở đó mà không bao giờ vượt qua nổi và không một ai muốn như vậy cả.
Hãy có ý thức nghĩa vụ và biết hy sinh bản thân mình. Phải có ý thức xả thân cho thế hệ mai sau.
VỊ THA
Người ta sinh ra để chung sống với nhau, không ai sống một mình được. Thói vị kỷ không hay ho gì, các bạn chớ nên làm mình bị dây bẩn vì những biểu hiện ích kỷ và tham lam. Hãy đặt tập thể lên trên, coi lợi ích cộng đồng cao hơn lợi ích của bản thân. Kẻ nào chịu làm nô lệ cho thói xấu ích kỷ kẻ đó không còn là thanh niên nữa.
Các bạn biết giá trị của sự tin cậy, nó cũng mang vẻ đẹp của sự hoà hợp về tình yêu. Nó duy trì những nguyên tắc cùng tồn tại và cùng phồn vinh. Nó gắn bó với sự tồn tại hơn là chiếm đoạt.
Thanh niên không phải là loại ẩn sĩ lập dị bởi vì những nơi chật hẹp không thích hợp với họ. Những khoảng không gian mở rộng là thuộc về tuổi trẻ và họ siết tay nhau bay tới đó. Ấy là khi cái “tôi” méo mó khập khiễng trở thành cái “chúng ta” đích thực. Vậy hãy đừng vướng bận vào ích kỷ và tham lam. Hãy cùng hướng tới tương lai với niềm tin và tình yêu trong sáng.
HÃY THÀNH THỰC VỚI MÌNH
Thế hệ đi trước đã phải chịu thử thách bao nhiêu để biết thành thực với mình, việc đó quả là rất khó vì những nghĩa vụ đối với gia đình và công việc. Hãy kiên trì theo đuổi những gì bạn thực sự mong muốn là cách tốt nhất để trung thực với chính mình.
KHIÊM TỐN
Sự trưởng thành và phát triển là nhờ học tập. Sự khôn lớn sẽ chững lại khi bạn tự cho mình là quan trọng, tự cho mình là hiểu biết. Việc đó đặt dấu chấm hết cho sự phát triển cũng như khôn lớn của bạn. Ta khôn lớn được là nhờ nhún mình, học hỏi nhiều.
Khi bạn đã cứng cáp, cái đầu của bạn phải thấp xuống. Chúng ta có rất nhiều điều cần học từ những giọt mồ hôi trên trán người cày ruộng, từ những vết dầu mỡ trên áo lao động của người công nhân, từ bàn tay ấm áp của mẹ khi người làm bữa sáng vào lúc hừng đông. Hãy mở mắt, dỏng tai ma` đón những âm thanh và hình ảnh quanh ta, hãy nhún mình, hãy ra công học tập.
Sưu tầm trên Internet
Trích trong cuốn sách "Thế giới quả là rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm" của tác giả KIM WOO CHOONG một nhà kinh doanh nổi tiếng, chủ tịch và là người sáng lập ra tập đoàn công nghiệp DAEWOO, Cộng hoà Triều Tiên.
- Một nụ cười không làm nghèo người phát nó nhưng làm giàu người nhận nó.
- Một nụ cười chỉ nở trong khoảnh khắc, nhưng có khi làm cho ta nhớ tới suốt đời.
- Kẻ phú quí tới bực nào mà không có nó thì cũng vẫn còn nghèo; còn kẻ nghèo hèn tới đâu, mà sẵn có nó thì vẫn có cái vốn vô tận.
- Nụ cười gây hạnh phúc trong gia đình, nó là nguồn gốc những hảo ý trong thương nghiệp và là dấu hiệu của tình bạn bè.
- Nó bồi dưỡng kẻ mệt nhọc, nó là hình ảnh bình minh cho kẻ ngã lòng, là nắng xuân cho kẻ buồn rầu, và là thuốc màu nhiệm nhất của tạo hoá để chữa lo âu.
- Nụ cười không thể mua được, không thể xin như khất thực được, không mượn được và cũng không thể ăn cắp được. Vì ta khư khư giữ nó thì nó chẳng có giá trị gì, nhưng nếu ta dùng nó một cách hào phóng thì giá trị của nó vô cùng.
- Cho nên khi bạn gặp một người mệt nhọc, không còn sức tươi cười với bạn được, thì bạn hãy mỉm cười với người đó. Vì người nào không còn lấy một nụ cười để tặng kẻ khác, người đó cần nhận một nụ cười hơn ai hết
Cuối cùng các nạn hãy cười nhiều lên , buồn thì hãy lên Yahoo để tâm sự với bạn bè và cùng cười lên . Một nụ cười bằng 10 than thuốc nổ mà.
Nguyên nhân Nhận thấy Việt Nam đưa quân vào Campuchia lật đổ chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ do Trung Quốc bảo trợ trong cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Campuchia, Trung Quốc quyết định tấn công xâm lược Việt Nam với lý do "dạy cho Việt Nam một bài học" (lời Đặng Tiểu Bình) nhưng mục đích chính là phân chia lực lượng quân đội của Việt Nam để giúp chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ. Đồng thời, Trung Quốc muốn thử nghiệm chiến thuật quân sự phòng thủ chủ động, đưa cuộc phòng thủ biên giới vào sâu lãnh thổ đối phương. Ngoài ra, theo một số nhà nghiên cứu quân sự Tây phương, về mặt chiến lược, Trung Quốc thử nghiệm một cuộc chiến tranh biên giới có giới hạn để thăm dò khả năng tương trợ của Liên xô, sau khi Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế SEV, và ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô (1978), trong đó có điều khoản về tương trợ quân sự . Nếu thảo ước này được tuân thủ nghiêm ngặt, theo nhận định của Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, nó sẽ là hiểm họa quốc phòng lớn vì đặt Trung Quốc vào tình thế lưỡng đầu thọ địch khi xảy ra chiến tranh với Việt Nam hoặc Liên Xô. Kế hoạch của Trung Quốc Kế hoạch của Trung Quốc gồm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu (từ 17 đến 25 tháng 2): phá vỡ hàng phòng thủ đầu tiên của Việt Nam và chiếm Cao Bằng, Lào Cai, cùng hai thị trấn Cam Đường và Đồng Đăng, cửa ngõ dẫn vào Lạng Sơn. Giai đoạn hai (từ 26 tháng 2 đến 5 tháng 3): tấn công Lạng Sơn và khu vực bao quanh ở phía đông, Sa Pa và Phong Thổ ở phía tây bắc. Giai đoạn cuối: bình định và phá hủy các căn cứ quân sự ở khu vực biên giới với Trung Quốc trước khi rút về vào ngày 16 tháng 3. Tương quan lực lượng tham chiến Để tiến công Việt Nam, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Lực lượng được huy động khoảng 600.000 binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phía sau. Tướng Hứa Thế Hữu, tư lệnh Đại Quân khu Quảng Châu chỉ huy hướng tiến công vào đông bắc Việt Nam với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng. Tướng Dương Đắc Chí, tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh đảm nhiệm hướng tây bắc với trọng điểm là Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai). Đây là đợt huy động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ Chiến tranh Triều Tiên. Về phía Việt Nam, do phần lớn các quân đoàn chính quy (3 trong số 4 quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia nên phòng thủ ở biên giới với Trung Quốc chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (chủ yếu là tân binh) của Quân khu I và II cùng các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an vũ trang (biên phòng) và dân quân tự vệ. Lực lượng biên giới có khoảng 70.000 quân, sau được hai sư đoàn từ miền xuôi lên tiếp viện. Quân đoàn 1 vẫn đóng quanh Hà Nội đề phòng Trung Quốc đổi ý tiến sâu vào trung châu. Diễn biến Sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, quân đội Trung Quốc áp dụng chiến thuật biển người bất kể tổn thất tiến công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam. Hướng Lạng Sơn có quân đoàn 43, 54, 55. Hướng Cao Bằng có quân đoàn 41, 42, 50. Hướng Hoàng Liên Sơn có quân đoàn 13, 14. Hướng Lai Châu có quân đoàn 11. Hướng Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay là Hà Giang) mỗi nơi cũng có từ 1-2 sư đoàn. Tất cả các hướng tấn công đều có xe tăng, pháo binh hỗ trợ. Không quân và hải quân không được sử dụng trong toàn bộ cuộc chiến. Trong giai đoạn đầu đến ngày 28 tháng 2 năm 1979, quân Trung Quốc chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang và một số thị trấn. Các cơ sở vật chất, kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để. Tuy nhiên, do vấp phải sự phòng ngự có hiệu quả của Việt Nam nên quân Trung Quốc tiến rất chậm và bị thiệt hại nặng.Quân Việt Nam còn phản kích đánh cả vào hai thị trấn biên giới Ninh Minh (thuộc tỉnh Quảng Tây) và Malypo (thuộc tỉnh Vân Nam) của Trung Quốc nhưng chỉ có ý nghĩa quấy rối. Ngày 19 tháng 2 năm 1979, nhóm cố vấn quân sự cao cấp của Liên Xô tới Hà Nội để gặp các tướng lĩnh chỉ huy của Việt Nam. Moskva yêu cầu Trung Quốc rút quân. Liên Xô cũng viện trợ gấp vũ khí cho Việt Nam qua cảng Hải Phòng, đồng thời dùng máy bay vận tải chuyển một số sư đoàn chính quy Việt Nam từ Campuchia về. Trong giai đoạn sau, cả hai bên đều tăng cường thêm lực lượng và cuộc chiến tiếp tục, trong đó quyết liệt nhất là hướng Lạng Sơn. Tại đây sư đoàn bộ binh 3 Sao Vàng, một đơn vị thiện chiến của Việt Nam từng đánh Mỹ cùng một số sư đoàn khác đã tổ chức phòng thủ chu đáo. Sau nhiều trận đánh đẫm máu bất kể tổn thất, quân Trung Quốc vào được thị xã Lạng Sơn chiều ngày 4 tháng 3 năm 1979. Ngày 5 tháng 3 năm 1979, Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Đồng thời phía Việt Nam cũng điều các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu vực bị chiếm đóng. Cũng trong ngày 5 tháng 3 năm 1979, do áp lực của Liên Xô và sự phản đối của quốc tế, đồng thời cũng đã chiếm được các thị xã lớn của Việt Nam ở biên giới, Bắc Kinh tuyên bố hoàn thành mục tiêu chiến tranh, chiến thắng và bắt đầu rút quân. Mặc dù chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số nơi nhưng đến ngày 18 tháng 3 năm 1979 quân Trung Quốc đã hoàn tất rút khỏi Việt Nam. Kết quả cuộc chiến Cuộc chiến để lại nhiều tác hại khó lường cho phía Việt Nam. Ngoài các thương vong về con người, tổn thất cụ thể về cơ sở vật chất hạ tầng ở 6 tỉnh biên giới bị phá huỷ do trận chiến, Việt Nam còn phải gánh chịu nhiều khó khăn, thiệt hại do thái độ và chính sách thù địch, vây hãm mà Trung Quốc và đồng minh của Trung Quốc gây ra trên các mặt trận quân sự, kinh tế, ngoại giao ... Thương vong Theo tuyên bố của phía Trung Quốc: quân Trung Quốc có 6.900 người chết, 14.800 người bị thương và 240 người bị bắt. Quân Việt Nam có 60.000 người chết và bị thương, 1.600 người bị bắt. Theo tuyên bố của phía Việt Nam: quân Trung Quốc có 62.500 người chết và bị thương, tổn thất 280 xe tăng, 115 khẩu pháo cối và 270 xe quân sự. Phía Việt Nam có hàng nghìn dân thường chết và bị thương, không có số liệu về tổn thất của các lực lượng vũ trang. Cuộc chiến cũng đã gây ra những thiệt hại nặng nề về kinh tế cho Việt Nam: 4/4 thị xã bị hủy diệt hoàn toàn, 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000 ha hoa màu bị tàn phá, 400.000 gia súc bị giết và bị cướp. Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống. Về lâu dài, nó mở đầu cho hơn 10 năm căng thẳng trong quan hệ và xung đột vũ trang dọc biên giới giữa hai quốc gia, buộc Việt Nam phải thường xuyên duy trì một lực lượng quân sự khổng lồ dọc biên giới, gây hậu quả xấu đến nền kinh tế. Sinh hoạt và sản xuất của người dân vùng biên giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài ra, nhiều cột mốc biên giới cũng bị quân Trung Quốc phá hủy, gây khó khăn cho việc hoạch định biên giới sau này. Có những nhà quan sát phương Tây nhận định như sau: Về mặt chiến thuật, Trung Quốc thất bại vì tuy Việt Nam chưa kịp đưa các đơn vị chủ lực ở Campuchia về tham chiến mà quân đội Trung Quốc vẫn chịu tổn thất nặng nề và phải rút quân về nước. Về mặt chiến lược, Trung Quốc đã không thất bại hoàn toàn vì đã chứng minh được mối đe dọa lưỡng đầu thọ địch từ phía quân đội Liên Xô và quân đội Việt Nam sẽ không xảy ra. Cũng có một số nhà quan sát cho rằng Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc bấy giờ có hai khuynh hướng, một thiên về Đặng Tiểu Bình, người muốn cải tổ quân sự trong toàn bộ chiến lược cải cách Trung Quốc, và một chống đối lại cải tổ. Tài liệu phương Tây cho rằng tai hại chiến lược to lớn nhất cho Việt Nam là cuộc chiến này đưa đến việc phe cải tổ thắng thế: Trung Quốc dồn sức hiện đại hóa các đơn vị chủ lực và đã thành công. Điều này sẽ thấy rõ sau này trong Chiến tranh biên giới Việt Trung, 1984-1988, khi Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn. Bình thường hóa quan hệ Sau khi Liên Xô tan rã, đến năm 1992 quan hệ giữa hai nước mới được bình thường hóa.
Từ sau năm 1979, quân TQ tiếp tục tấn công lấn chiếm vào đất ta ở nhiều điểm. Ở địa bàn QK1, địch đánh chiếm bình độ 400 (Lạng Sơn), cao điểm 820, 630. Ở địa bàn QK2, tháng 8-1980, địch đánh cao điểm 1992 (Sín Mần, Hà Tuyên). Tháng 5-1981 đánh cao điểm 1800A-1800B (Lào Chải, Hà Tuyên). Tháng 2-1982 tấn công vào Đồng Văn, Mèo Vạc. Tháng 4-1983 tấn công vào Mường Khương. Đặc biệt từ tháng 4-1984 địch tập trung tấn công lớn vào Vị Xuyên. Thời điểm này, ta bố trí dọc tuyến biên giới 3 quân đoàn, 11 sư đoàn, 13 trung đoàn và 70 tiểu đoàn độc lập. Các lực lượng bảo đảm, phục vụ... tuyến sau tương đương 4-6 sư đoàn. Tổng quân số khoảng 300.000 người. Ngoài ra, sâu trong nội địa còn có 3 quân đoàn chủ lực Bộ làm dự bị. Mặt trận biên giới Vị Xuyên diễn ra từ tháng 4-1984 đến tháng 4-1989, chia thành 4 thời kỳ : - Từ 2-4-1984 đến 16-5-1984 : địch tiến công lớn, ta phòng ngự. - Từ 16-5-1984 đến 7-1-1987 : ta củng cố phòng ngự, tổ chức tiến công một số điểm bị chiếm đóng, địch tiếp tục tấn công lấn chiếm. - Từ tháng 2-1987 đến tháng 12-1988 : ta và địch đều ngừng tiến công lớn, chủ yếu củng cố phòng ngự và bắn pháo. - Từ tháng 12-1988 đến tháng 4-1989 : địch ngừng bắn phá và bắt đầu rút dần một số điểm. Trong 5 năm từ 1984-1989, địch đã dùng 20 lượt sư đoàn, 171 lượt trung đoàn đến đại đội tấn công lấn chiếm vào đất ta 1-2km. Phía ta cũng 7 lần thay phiên các sư đoàn chủ lực lên chiến đấu. Về phía QK1 có trung đoàn bộ binh 981, 982, 983. QK2 có sư đoàn bộ binh 313, 314, 316, 356; lữ đoàn công binh 543, lữ đoàn pháo binh 168, lữ đoàn cao xạ 297, trung đoàn xe tăng 406. trung đoàn thông tin 604, trung đoàn vận tải 652, các tiểu đoàn đặc công, trinh sát, các đơn vị địa phương của BCHQS tỉnh Hà Tuyên và trung đoàn bộ binh 754 của BCHQS tỉnh Sơn La. Đặc khu Quảng Ninh có trung đoàn bộ binh 568 (sư đoàn bộ binh 328). QĐ1 có sư đoàn bộ binh 312, QĐ2 có sư đoàn bộ binh 325, QĐ3 có sư đoàn bộ binh 31, lữ đoàn pháo binh 368 thuộc BTL Pháo binh... Ngoài ra còn nhiều đơn vị lên với hình thức quân tăng cường, lên vẫn lấy phiên hiệu đơn vị phòng ngự cũ. Bố trí lực lượng phòng ngự có 2 khu vực : Khu vực Tây sông Lô : - Từ đầu năm 84 đến 12-85 : F313 và 356 + 1 E của QK1. - Tháng 12-85 : F31 thay F313. - Tháng 6-86 : F313 thay F31. - Tháng 2-87 : F356 thay F313. - Tháng 8-87 : F312 thay F356. - Tháng 1-88 : F325 thay F312. - Tháng 9-88 : F316 thay F325. - Tháng 5-89 : F313 thay F316. Ở hướng này khoảng 6 tháng ta thay quân một lần. Riêng F313 có đợt chiến đấu kéo dài liên tục gần 1 năm, gặp rất nhiều khó khăn. Khu vực Đông sông Lô : - Từ đầu năm 84 : E266 (F313). - Tháng 7-84 : E141 (F312) thay E266 (F313). - Tháng 4-85 : E568 (F328) thay E141 (F312). - Tháng 11-85 : E818 (F314) thay E568 (F328). - Tháng 2-87 : E881 (F314) thay E818 (E314). - Tháng 9-87 : E818 (F314) + 1D tăng cường của E754 thay E881 (F314). - Tháng 6-88 : E728 (F314) thay E818 (F314). - Tháng 10-88 : E247 (BCHQS tỉnh Hà Tuyên) thay E728 (F314). Hướng phòng ngự Đông sông Lô gặp nhiều khó khăn hơn phía Tây, nhiều đơn vị phải chiến đấu những đợt kéo dài 7-10 tháng. Diễn biến chính : Từ ngày 2-4 đến 28-4-1984, địch tập trung pháo binh bắn phá khu vực Vị Xuyên, từ điểm cao 1545 đến điểm cao 1030. Trong 26 ngày đêm địch đã bắn tổng cộng 30.000 viên đạn pháo cối các loại. Riêng từ ngày 28-4 đến 30-4-1984, địch bắn 12.000 quả đạn pháo vào 6 điểm tựa của ta để chi viện cho bộ binh của chúng (thuộc sư đoàn 40, quân đoàn 14 ĐQK Côn Minh) tấn công đánh chiếm các điểm cao 226, 233, bình độ 300-400, 1509, 772, 685. Trong 2 ngày địch đã đánh chiếm được 226, 233, 772, 1509, bình độ 300-400, E1, 685 do trung đoàn 122 (sư đoàn 313 QK2) của ta phòng ngự, lấn vào lãnh thổ VN khoảng 2km. Ngày 15-5-1984, địch mở đợt tiến công Đông sông Lô (từ điểm cao Si Cà Lá đến M13) với lực lượng 1 trung đoàn tăng cường (sư đoàn 40, quân đoàn 14 ĐQK Côn Minh). Sau 1 ngày chiến đấu, địch đã chiếm được các điểm cao 1030, Si Cà Lá, 1250, đài 2, M13 do trung đoàn 266 (sư đoàn 313 QK2) của ta phòng ngự. Như vậy, từ 28-4 đến 16-5-1984, địch đã chiếm 18 điểm, triển khai phòng ngự chốt giữ 29 điểm trên lãnh thổ VN. Trong đó có khu 1509, 772 mà chúng gọi là Lão Sơn, khu 1250, 1030, Si Cà Lá (Núi Bạc) mà chúng gọi là Giả Âm Sơn. Tháng 6-1984, Bộ Tư lệnh mặt trận của ta quyết định tổ chức tiến công để giành lại các chốt bị chiếm đóng. Lực lượng tham gia đợt tiến công này gồm 3 trung đoàn . - Trung đoàn 141 (sư đoàn 312 QĐ1) đánh 1030, Si Cà Lá. - Trung đoàn 174 (sư đoàn 316 QK2) đánh 233, bình độ 300-400. - Trung đoàn 786 (sư đoàn 356 QK2) đánh 772 phát triển sang 685. Cần lưu ý rằng tuy gọi là trung đoàn nhưng lực lượng thực sự tham gia chiến đấu chỉ có 1-2 tiểu đoàn. Ngày 12-7-1984, ta nổ súng tiến công địch. Tuy đã chiến đấu rất quyết liệt nhưng đợt tiến công của ta đã không thành công. Đến tháng 11-1984, Bộ Tư lệnh mặt trận hạ quyết tâm mở tiếp một đợt tấn công vây lấn. Lần này các đơn vị có 4 tháng chuẩn bị. - Các đơn vị thuộc sư đoàn 313 QK2 vây lấn địch ở bình độ 300-400. - Các đơn vị thuộc sư đoàn 356 QK2 vây lấn địch ở 685. Đợt chiến đấu kéo dài từ 18-11-1984 đến 18-1-1985 (ta ngừng tiến công vào dịp Tết Nguyên đán). Mặc dù chưa khôi phục hoàn toàn khu vực A5, 300-400, 685 nhưng ta đã giành lại được một số chốt, hình thành thế phòng ngự xen kẽ, bám sát địch, có nơi chỉ cách địch 15-20m như đồi Chuối, đồi Cô X, đồi Đài, A4, khu Cót Ép, khu E và mỏm E2, E3, E5 của 685. Cá biệt có những nơi như ở Bốn hầm, chốt của ta và địch chỉ cách nhau 6-8m. Trong 2 năm 1985-1986, địch tiếp tục mở nhiều đợt tiến công lấn chiếm trận địa của ta. Chiến sự diễn ra khá quyết liệt, có những nơi như ở Bốn hầm ta địch giành giật nhau tới 38 lần, điểm cao 685 41 lần, đồi Cô X 45 lần. Pháo cối địch tiếp tục bắn phá hàng vạn quả đạn vào lãnh thổ ta. Riêng trong 3 ngày từ 5-1 đến 7-1-1987, pháo địch đã bắn 100.000 quả đạn. Kể từ năm 1987 trở đi, chiến sự ở mặt trận biên giới Vị Xuyên dần dần lắng xuống. Ngày 21-12-1988, lần đầu tiên địch ngừng bắn pháo vào Vị Xuyên, nơi chưa hề có một ngày im tiếng pháo kể từ năm 1984 (nhưng sau đó thì chúng tiếp tục bắn). Từ năm 1989, địch giảm bắn pháo và rút khỏi một số điểm ở phía Bắc suối Thanh Thủy. Ngày 13-3-1989, địch rút khỏi 20 điểm chiếm đóng và đến tháng 9-1989, địch rút khỏi 9 điểm còn lại. Kết quả chiến đấu : - Trong 5 năm tác chiến, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 15.000 tên địch, bắt 325 tù binh (bắt 6 tên trong chiến đấu và 319 tên thám báo, trinh sát đột nhập). - Đánh thiệt hại nặng 4 trung đoàn, 43 tiểu đoàn, 18 đại đội, 10 trung đội; đánh thiệt hại vừa 4 tiểu đoàn, 5 đại đội, 4 trung đội; đánh thiệt hại nhẹ 4 tiểu đoàn, 7 đại đội, 10 trung đội. - Phá hủy 100 khẩu pháo các cỡ, 100 khẩu súng cối các cỡ, tiêu diệt 13 trận địa pháo cối, 170 xe vận tải, 130 kho tàng, 1.550 ụ súng, lô cốt, hoả điểm, đài quan sát của địch... - Thu 50 khẩu súng bộ binh, 50 máy thông tin cùng một số khí tài khác. Tổng cộng trong thời gian từ 1984-1989, địch đã bắn vào khu vực Vị Xuyên 1.858.613 quả đạn pháo cối các loại. Trung bình mỗi ngày từ 10.000-20.000 quả. Có đợt 3 ngày (5 đến 7-1-1987) bắn 100.000 quả. Có ngày bắn tới 61.115 quả. Theo nguồn tin BBC, thiệt hại là quân ta: 35-40 ngàn, Trung Quốc: 25-30 ngàn. Và sau khi kết hiệp định biên giới năm 1990, ta mất núi Lão Sơn. Về chiến lược và sức mạnh quân sự TQ thắng ta hoàn toàn. Sau năm 1990 đến nay TQ vẫn tiếp tục xây dựng sân bay, pháo đài và liên tục tăng cường hạm đội ở quần đảo Hoàng Sa. Hải quân và lực lượng biên phòng của ta ở Trường Sa vẫn luôn trong tình trạng cảnh giác cao độ. ( tổng hợp nhiều nguồn trong tài liệu và trên mạng )